Cộng đồng nghề kế toán Việt Nam Chia sẻ kinh nghiệm nghề kế toán

Kế toán quản trị doanh thu, kết quả kinh doanh

>> Xem thêm: Đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư

Kế toán quản trị doanh thu

Doanh thu là gì?

Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu

Các loại doanh thu trong doanh nghiệp

Doanh thu bán hàng hóa;

Doanh thu bán các thành phẩm;

Doanh thu cung cấp dịch vụ;

Doanh thu trợ cấp, trợ giá;

Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư;

Doanh thu hoạt động tài chính;

Doanh thu khác.

Tổ chức kế toán quản trị doanh thu

– Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần thiết thông tin một cách chi tiết cụ thể về chi phí – doanh thu và kết quả của từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, lao vụ dịch vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô, để có được những quyết định đúng đắn cho sự phát triển doanh nghiệp không chỉ trong thời gian hiện tại mà cả về tương lai lâu dài. Việc kế toán chi tiết chi phí doanh thu – kết quả sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp quyết định nên mở rộng hay thu hẹp qui mô hoạt động, mở rộng, thu hẹp như thế nào, tới mức độ nào hay đình chỉ, quyết định tiếp tục SXKD hay chuyển hướng hoạt động.

+ Các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu còn phải mở sổ chi tiết để theo dõi doanh thu hàng xuất khẩu.

+ Trường hợp hàng bán phải chịu các thuế suất khác nhau, doanh nghiệp còn phải theo dõi chi tiết doanh thu theo từng loại thuế suất.

+ Căn cứ vào yêu cầu quản trị kinh doanh mà việc kế toán quản trị doanh nghiệp cần được thực hiện trên các TK, sổ kế toán phù hợp với loại hình, đặc điểm hoạt động SXKD của doanh nghiệp.

+ Đối với số doanh thu bán hàng ra ngoài được phản ánh tổng hợp trên TK 511 “Doanh thu bán hàng”. Tài khoản này phản ánh giá trị của sản phẩm hàng hoá, lao vụ dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán, đã cung cấp cho khách hàng (doanh thu đã thực hiện hoặc thu tiền ngay, hoặc được người mua chấp nhận thanh toán), cũng như các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và thuế tiêu thụ (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu) để xác định doanh thu thuần kết chuyển sang Tài khoản 911 “Xác định kết quả kinh doanh” để tính lãi, lỗ về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Để theo dõi chi tiết doanh thu của từng loại hoạt động TK 511 được mở thành 4 TK cấp 2:

TK 5111 : Doanh thu bán hàng hoá.

TK 5112 : Doanh thu bán thành phẩm.

TK 5113 : Doanh thu cung cấp dịch vụ.

TK 5114 : Doanh thu trợ cấp, trợ giá.

+ Từng TK cấp 2 nêu trên, Kế toán quản trị có thể mở chi tiết hơn cho từng loại hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ. (ví dụ TK 5112 có thể mở thành: 51121 – Doanh thu bán thành phẩm A. 51122 – Doanh thu bán thành phẩm B).

– Trường hợp khách hàng thanh toán tiền hàng trước thời hạn quy định hoặc vì một lý do ưu đãi nào đó mà được doanh nghiệp giảm trừ sẽ được thanh toán riêng thành khoản chiết khấu bán hàng, đồng thời theo dõi khoản chiết khấu này riêng biệt cho từng hoạt động tiêu thụ: hàng hoá, thành phẩm và cung cấp dịch vụ.

– Mục đích của việc tiêu thụ, bán hàng là thu được tiền để bù đắp trang trải các chi phí liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay cung cấp thực hiện lao vụ dịch vụ và các chi phí liên quan trong quá trình bán hàng, chi phí QLDN. Việc theo dõi, kiểm tra và đôn đốc khách hàng thanh toán kịp thời có ảnh hưởng lớn đến quá trình thu hồi vốn để tiếp tục sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy đối với những khách hàng còn nợ doanh nghiệp, cũng cần phải tổ chức kế toán chi tiết riêng theo từng khách hàng trên các tài khoản, sổ kế toán liên quan.

+ Toàn bộ số tiền còn phải thu của khách hàng cũng như tình hình thanh toán của khách hàng được phản ánh tổng hợp trên TK 131 “Phải thu của khách hàng”. Song, kế toán quản trị phải mở chi tiết TK 131 thành các TK cấp 2 riêng cho từng khách hàng, ví dụ: TK 1311 – Thanh toán với khách hàng X; TK 1312 – Thanh toán với khách hàng Y để tiện theo dõi, kiểm tra, báo cáo…

+ Đối với trường hợp những khách hàng có tình hình tài chính kém, không có khả năng thanh toán, đã quá hạn thanh toán lâu, phá sản… cần được theo dõi riêng để trích lập dự phòng, xoá khoản nợ.

+ Ngoài việc mở các tài khoản chi tiết để theo dõi chi tiết từng loại doanh thu cũng như khoản thanh toán với từng khách hàng, kế toán quản trị cần phải mở các sổ kế toán chi tiết tương ứng để theo dõi phù hợp với yêu cầu quản trị doanh nghiệp.

=> Trường hợp phát sinh các nghiệp vụ bằng ngoại tệ thì phải theo dõi riêng cả nguyên tệ và quy đổi ra đồng Việt Nam tại thời điểm phát sinh.

Kế toán quản trị chi tiết kết quả kinh doanh

Phương pháp xác định kết quả kinh doanh

Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau một thời kỳ hoạt động chính là chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào của hoạt động SXKD. Tuy nhiên số chênh lệch đó chỉ mới nói lên kết quả lãi (lỗ) tổng hợp của toàn bộ hoạt động SXKD. Hoạt động SXKD của doanh nghiệp gồm nhiều loại hoạt động khác nhau nên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành 3 loại:

Kết quả hoạt động SXKD thông thường

– Kết quả tiêu thụ sản phẩm, kinh doanh mua bán vật tư hàng hoá, cung cấp thực hiện lao vụ dịch vụ.

– Kết quả hoạt động SXKD thông thường là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với trừ đi các khoản: Giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí QLDN.

Kết quả hoạt động SXKD thông thường được xác định:

Kết quả hoạt động tài chính

Kết quả hoạt động tài chính là lợi nhuận thuần từ hoạt động về đầu tư chứng khoán, cho vay, kinh doanh bất động sản… Lợi nhuận từ hoạt động tài chính là số chênh lệch giữa doanh thu (thu nhập) hoạt động tài chính với chi phí về hoạt động tài chính.

Kết quả khác

Đây là số chênh lệch giữa doanh thu khác với chi phí khác

Tổ chức kế toán quản trị kết quả kinh doanh

Việc tổ chức kế toán quản trị kết quả kinh doanh của từng mặt hàng, sản phẩm, từng loại lao vụ dịch vụ…theo từng loại hình hoạt động của doanh nghiệp cần phải được tiến hành một cách đồng bộ và bắt đầu tư khâu tổ chức kế toán chi tiết chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm để xác định được trị giá vốn hàng bán, tới việc kế toán chi tiết doanh thu, thu nhập và việc phân bổ các chi phí thời kỳ: Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.

Trong từng khâu cần phải tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản và sổ kế toán chi tiết để có thể tập hợp những số liệu, thông tin liên quan mà xác định được chi tiết kết quả kinh doanh từng mặt hàng sản phẩm, từng loại lao vụ dịch vụ.

Trị giá vốn hàng bán có thể được tính theo những phương pháp khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm hình thành và sự vận động của hàng bán trong từng loại hình doanh nghiệp và việc đăng ký phương pháp tính trị giá thực tế hàng xuất kho của doanh nghiệp.

* Đối với DNSX trị giá vốn hàng bán chính là giá thành sản xuất (tính riêng theo từng khoản mục) thực tế của sản phẩm đã bán. Giá thực tế (trị giá vốn) hàng bán trong các doanh nghiệp này có thể tính theo một trong các phương pháp sau:

1. Phương pháp đơn giá bình quân

2. Phương pháp nhập trước – xuất trước.

3. Phương pháp nhập sau – xuất trước.

4. Phương pháp giá đích danh.

5. Phương pháp hệ số giá.

* Đối với các doanh nghiệp thương mại kinh doanh mua bán vật tư hàng hoá thì trị giá vốn hàng bán được xác định bằng trị giá mua cộng với chi phí mua phân bổ cho số hàng đã bán.

* Theo qui định hiện hành của chế độ kế toán tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tập hợp trong kỳ được kết chuyển toàn bộ trừ vào lợi nhuận gộp để tính toán, xác định kết quả lợi nhuận thuần của hoạt động SXKD thông thường. Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu quản trị doanh nghiệp cũng như việc tính toán chi tiết kết quả kinh doanh của từng loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ mà chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp trong nhiều trường hợp phải phân bổ cho cả số sản phẩm, vật tư hàng hoá đã tiêu thụ và số sản phẩm vật tư hàng hoá đã sản xuất ra hoặc mua vào chưa được tiêu thụ (tồn kho).

=> Với việc tổ chức kế toán quản trị chi tiết doanh thu và kết quả kinh doanh từng hoạt động, từng mặt hàng, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ các nhà quản trị doanh nghiệp có thể thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu và kế hoạch lợi nhuận cũng như việc xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: Khối lượng sản phẩm tiêu thụ, kết cấu mặt hàng, giá thành sản phẩm… đến lợi nhuận của doanh nghiệp.

Tham gia thảo luận cùng chúng tôi tại đây